NGUYỄN ĐỖ VĨNH PHONG: Thành phố nhỏ của tôi

Tặng tuỳ bút này cho những người yêu Đà Nẵng

Tôi bắt đầu suy nghĩ về những dòng nhỏ này trong một quán bar nằm trên đường Bạch Đằng - Bamboo. Trong thứ âm thanh tạp nham ồn ào những cuộc chuyện trò không dứt tôi nhắm mắt để hình dung thật đủ đầy về những gì sắp sửa viết ra sắp sửa đặt lên trang giấy trắng của mình.
Câu chuyện của tôi cũng chỉ là một tập hợp những hình dung rất vụn và rời rạc. Nó chắp vá và đan cài trong tôi. Dẫu vậy ngay lúc này cái "hứng" của tôi thứ quan trọng nhất đối với người cầm bút được gầy dựng nên rõ ràng hơn bao giờ hết sau những cuộc chuyện trò cùng bè bạn nước ngoài. Tôi mải miết suy nghĩ cho đến khi cơ thể mệt bã ra cho đến khi âm thanh một trận mưa cuối mùa đổ xuống...
Tôi viết về Đà Nẵng thành phố mình.
Có những thứ thật khó để viết cho hết cho đủ. Và quê hương là một trong những thứ đó. Có quá nhiều kỉ niệm đã gắn chặt chúng ta vào nó. Và như ai đó đã nói rằng nếu phải xa lìa nó ta sẽ chỉ như một đứa trẻ bơ vơ vì bị tách khỏi tử cung mẹ mà đành khóc một trận ngon lành. Bởi quê hương là mẹ là máu là thứ khí trời ta hít thở mỗi buổi sáng được nghe loa phóng thanh rộn ràng là tất cả những gì chúng ta nhìn thấy và mơ về ...
Tôi đã được trải nghiệm cái cảm giác xa cách ấy trong những lần ngồi trong khoang máy bay nhìn giã biệt những khối nhà bày ra như ma trận bên dưới lòng không cầm được cảm giác hoang mang. Tôi sẽ trôi về đâu? Một tỉnh lẻ xa lạ? Một thành phố chật ních người xe? Cái tình yêu tôi dành cho thành phố mình hiện hữu rõ ràng hơn bao giờ hết trong những chuyến đi vội vã bất cần và hoang mang như thế...
Đà Nẵng tròn đầy như vậy đó. Nó một thành phố nho nhỏ thuộc về miền Trung Việt Nam và nằm gọn trong lòng tay mẹ biển. Một thành phố đáng yêu với hơn tám trăm ngàn con người. Nó đẹp đến nỗi mỗi sáng ta được nghe tám trăm ngàn con người quanh mình ấy hít thở vận động. Nhịp thở như tiếng xào xạc của một vườn đu đủ khổng lồ trong một phim Việt tôi xem đã lâu. Thành phố như một thực thể sống trỗi dậy hằng ngày hằng giờ với những con người hăm hở cho những cuộc hành trình dài ngày. Họ đi cho những cuộc chuyển mình mới của thành phố...
Đó là một thành phố của những cây cầu. Năm cây cầu nối hai bờ sông từng một thời diệu vợi xa cách. Một cây cầu khác đang được thi công trong đợi chờ và háo hức của bao người. Tôi đi hằng ngày trên cầu Nguyễn Văn Trỗi. Bốn mùa trên cầu thay đổi như những khung hình thoắt ẩn thoắt hiện trong kính vạn hoa. Những ngày mùa đông nước đục ngầu bèo trôi đầy mặt sông. Những buổi sáng xuân từng đoàn xe ngược xuôi chở những cành xanh đằng sau chở phong vị tết về nhà. Những trưa mùa hè nắng chói chang như lẩy từ đâu đó trong ảnh cụ Võ An Ninh. Mùa thu cây cầu lặng lờ như một chiếc lá rụng về đất đẹp như một bài thơ tình Xuân Quỳnh...
Đà Nẵng là thành phố của quán xá của chuyện trò... Tôi yêu những cái quán nhỏ trong thành phố bằng thứ tình yêu mê muội. Ở mỗi góc nhỏ khi rúc vào cảm giác như cơ thể mình được bám chặt vào lòng đất được kết nối hoàn toàn với những ngọn lửa âm ỉ bên trong. Tôi hay ngồi ở Gitano trên đường Nguyễn Chí Thanh. Nhìn ra khỏi cửa sổ nhìn vào một góc rất nhỏ của thành phố - sau lưng trường Phan Châu Trinh cũ mường tượng về một vùng kí ức xa xưa xanh thẳm. Những buổi sáng chủ nhật tôi tìm về một quán cà phê trên đường Lí Tự Trọng - quán Linh. Những giờ phút trong veo ở đó là những giờ phút tôi nghiệm lại mình giải quyết những công việc lỉnh kỉnh và thêm yêu cái sự sống sinh sôi trước mắt. Cà phê Linh ngon ngọt đậm và vì thế dễ chừng là hàng cà phê ngon nhất thành phố. Người Đà Nẵng "nhậu" cũng nhiều. Họ tìm đến quán xá - những nơi xả xì trét hiệu quả nhất - sau những giờ giam mình vào công việc mưu sinh. Quán còn là nơi người ta làm việc. Có người tìm đến đây mượn một chỗ ngồi nhỏ và khuất để tiến những bước vạn dặm trong đời...
Và tôi nghĩ tới biển. Bờ biển Đà Nẵng dài và mảnh như giọng Shania Twain nó trở thành huyền sử trong đầu óc tôi. Nó kể cho tôi bao đêm thiếu thời chuyện thần thoại về Ngũ Hành Sơn sinh ra từ một quả trứng. Là chuyện những người con của biển sinh ra và lớn lên trong giông bão. Họ vượt sóng vượt gió tìm ra đại dương. Là những buổi chiều Thanh Khê bóng một mẹ già lặng lẽ ngồi nhìn xa xăm tạc vào không gian xanh thẳm. Sau những cuộc hành trình dài ngày những đợt bão đã vắng nhiều những bóng người thân... Là những buổi sáng mùa hè biển như thỏi nam châm khổng lồ hút những đoàn người áo xanh áo đỏ. Và cũng chẳng lạ gì khi Forbes một tạp chí uy tín ở Mĩ xếp nó vào danh sách mười bờ biển đẹp nhất thế giới.
Tôi muốn viết những dòng đẹp cho những con phố ngày thường. Đà Nẵng còn là những cung đường quen rất quen. Trước đây tôi có thể bỏ hàng giờ để lạc vào những con hẻm Hoàng Diệu tự thưởng cho mình cái cảm giác bị lạc giữa một thành phố đã quen đã thân. Cái cảm giác ấy ám ảnh tôi suốt những năm cấp ba. Tôi còn nhớ thời trẻ con của mình mỗi lần có được một niềm vui nho nhỏ tôi cũng xách xe chạy như bay trên dốc Cầu Vồng. Từng bầy chuồn chuồn bay trên đầu tôi trên những lọ sành sứ trên đoạn dốc ngắn ngủi ấy bây giờ đã trôi về một chương trong quá vãng rồi. Đêm khuya những năm chín mươi tôi đi bộ trên đường Ông Ích Khiêm sà vào quán trứng vịt quen nghe tiếng xích lô đêm lọc cọc vọng về. Những trưa còn đạp xe đi học trên đường Trần Phú nghe tiếng lá xào xạc trên đầu tôi mới hiểu truyện Nguyễn Nhật Ánh đẹp đến độ nào. Trên cao kia nắng bị chặn ở một khoảng không xanh biếc.
Người Đà Nẵng cũng đẹp và lành như đất. Tôi lớn lên từ thầy cô mình. Tôi nhớ thầy Hồ Kì Mô của trường Nguyễn Khuyến một đời thầy theo nghiệp gõ đầu trẻ đi đi về về trong những công thức toán học. Tôi nghĩ về thầy Hoàng Dục trường Lê Quí Đôn về những giờ học đẹp miệt mài một niềm yêu văn chương. Tôi thích cái cảm giác chen chúc ở cây xăng đường Thái Phiên bị vây bởi những người không quen biết. Tôi mường tượng về người bán hoa ở chợ Hàn những đêm trời lạnh và khuya. Tôi ghé vào mua một bông hồng và nhận lại nụ cười cuối cùng trong ngày từ người bán. Tôi quay xe về nhà rồi bị hút vào cái không gian đen thẳm lòng dấy lên những cảm giác lâng lâng khó tả...
Có một điều về Đà Nẵng mà tôi thực tâm trân trọng. Đó là cái thế giới ẩm thực của thành phố này. Tôi có một bạn sống ở Thăng Bình. Hằng tuần bạn tôi dong xe về Đà Nẵng chỉ để mua chả cá. Nghe đâu người vợ thèm ăn bún chả cá nên chồng phải lặn lội kì công như thế. Cũng dễ hiểu miếng chả cá thơm phưng phức tan đi trong thứ nước bún ngòn ngọt kia đã đủ làm một cái tứ đẹp cho cả Thạch Lam lẫn Nguyễn Tuân rồi. Bạn bè sành ăn thường rủ tôi chui vào một góc nhỏ trong đường Điện Biên Phủ để ăn nem lụi. Mùi nem cháy trên bếp than gợi về những ngày tôi còn ở Vĩnh Điện. Lúc nhỏ tôi lớn lên trong rơm rạ trong than hồng. Và nay mỗi cuốn nem như khơi mở dần một vùng kí ức tưởng đã ngủ quên đã không còn. Nhưng chừng đó vẫn chưa đủ. Đà Nẵng có cơ man nào là bánh: bánh xèo bánh nậm bánh ú bánh ướt bánh bèo ... Có lúc lội chợ Cồn lòng không cầm nổi nôn nao vì những hàng quán. Thời gian như ngưng đọng trong chiếc đồng hồ lớn đã thôi chạy từ bao năm trước chợ mỗi khi dừng chân thưởng thức những thứ quà ngon lạ ấy.
Đà Nẵng còn là nơi mối tình đầu của tôi xuất hiện. Yêu và được yêu cái cảm giác bồn chồn và bối rối ấy kéo dài qua những mùa Noel người ta đi chật đường về Nhà thờ Chính toà. Nơi thành phố ấy tôi đã yêu tha thiết mọi thứ. Như thể ở Paris hay Milan sự lãng mạng sinh ra từ tình yêu đó. Tôi đã mong mình sẽ sống đẹp trong cái tình yêu đơn giản ấy và được chết trong một tình yêu cũng đơn giản tương tự. Nhưng nàng sau cùng cũng rời bỏ tôi. Thành phố từ dạo ấy đẹp và trầm tư hơn nhiều.
Cũng bởi Đà Nẵng giờ đây không chỉ là một miền để ở để sống để thờ phụng tổ tiên nữa... Đà Nẵng là niềm thiêng liêng một chứng nhân của những sự kiện từ vụn vặt đến lớn lao trong chặng đầu đời không lấy gì làm dài lắm của tôi. Nó từ lâu đã trở thành một người bạn thân thiết của tôi.
Bắt rễ vào thành phố này tôi được sống một đời sống đẹp đẽ và rực rỡ nhất.
N.Đ.V.P