Ca dao Quảng Nam về ngành nghề truyền thống

MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TRONG
CA DAO QUẢNG NAM VỀ NGÀNH NGHỀ TRUYỀN THỐNG


                       
     
                                  

Văn hoá Việt Nam trải qua bao thăng trầm của lịch sử tiếp thu nhiều nguồn văn hoá khác nhau từ văn hoá Nho học văn hoá Phương Tây văn hoá Chàm… nhưng vẫn là nền văn hoá thống nhất có bản sắc riêng. Bản sắc văn hoá ấy biểu hiện cụ thể qua từng vùng miền trong đó Quảng Nam nơi “ngã ba giao lưu kinh tế - văn hoá” có nhiều nét đặc thù dấu ấn còn dể lại đậm nét trong ca dao. Người Quảng trên bước đường Nam tiến của dân tộc luôn mang theo và gìn giữ “hồn Việt” đồng thời tiếp thu sáng tạo các giá trị văn hoá mới làm phong phú thêm nềm văn hoá giàu bản sắc của dân tộc.
Một trong những biểu hiện của sự phát triển văn hoá của người Quảng là sự phát triển của nhiều ngành nghề tinh xảo sản xuất nhiều hàng hoá phục vụ tiêu dùng và giao lưu buôn bán nhiều nước trên thế giới.

Quảng Nam là vùng đất nông nghiệp ven biển ngay từ những ngày đầu tiên đặt chân khai hoá mảnh đất này hầu hết người dân đều chọn 2 nghề chính để sinh sống là nghề nông và nghề đánh cá (sông biển): “Ai ơi chớ phụ nghề nông/ Đồng cao ruộng thấp ra công cấy cày/ Chân bùn tay lấm càng hay/ Có khi vất vả có ngày phong lưu” hoặc “Lênh đênh sóng dập gió dồi/ Rày sông mai biển mấy hồi thảnh thơi”. Nghệ thuật dùng từ ngữ trong ca dao nói về ngành nghề rất đa dạng với câu trên tác giả dùng phương pháp tách từ để tạo hiệu quả biểu cảm: Cụm từ “sóng gió dập dồi” được chuyển thành “sóng dập gió dồi” và “rày mai sông biển” được chuyển thành “rày sông mai biển”. Từ địa phương “rày” thay cho từ phổ thông “nay” tạo cho câu ca dao mang đậm sắc thái địa phương.
Trực tiếp nêu ra các từ cùng trường ngữ nghĩa là một biện pháp sử dụng ngôn ngữ thú vị: “Cha chài mẹ lưới con câu / Chàng rể đi tát con dâu đi mò”. “Chài” “lưới” “câu” “tát” “mò” là các cách nói khác nhau của cùng một nghề trên sông nước - nghề đánh bắt cá. Dùng liên tiếp 5 từ trường nghĩa tác giả dựng lên 5 góc nhìn khác nhau miêu tả cảnh vất vả của người dân; một tầng nghĩa khác câu ca dao muốn đề cập đến là phê phán quy luật xã hội nghiệt ngã của xã hội phong kiến theo dạng “con sãi ở chùa phải quét lá đa”. Cách sắp xếp các từ theo trường nghĩa từ cao đến thấp (từ “chài” đến… “mò”) cho thấy con đường đi xuống không lối thoát của người nông dân.
Người Quảng Nam cũng như người nhiều vùng khác có hàng trăm nghề mưu sinh nhưng những nghề chứa đựng bên trong những giá trị văn hoá của địa phương đạt đến nghệ thuật tinh xảo thi không thể nhiều. “Mỗi cây mỗi hoa mỗi nhà mỗi cảnh” người Quảng Nam xứng đáng tự  hào về mảnh đất có nhiều nghề cha truyền con nối:
Đá than thì ở Nông Sơn
Bông Miêu vàng bạc Quế Sơn có chè
Thanh Châu buôn bán nghề ghe
Thanh Hà vôi ngói mía che Đa Hoà
Phú Bông dệt lụa dệt sa
Kim Bồng thợ mộc Ô Gia thợ rừng
Bài ca dao nhắc đến nghề đào than đá ở Nông Sơn nghề đãi vàng ở Bông Miêu nghề đan ghe ở Thanh Châu nghề sản xuất ngói ở Thanh Hà nghề làm mía đường ở Đa Hoà nghề dệt lụa Phú Bông nghề mộc Kim Bồng… Và còn nhiều ngành nghề khác được ca dao nhắc đến như “Em về Bàn Thạch / Trải chiếu anh nằm…”.
Nghệ thuật dùng từ nhiều nghĩa: “Nhớ cô dệt đũi chợ Chùa/ Rượu ngon chợ Vạn bốn mùa anh say”. Từ “say” có nghĩa là say rượu ngon chợ Vạn say ở đây còn là say tình vì thương nhớ cô gái dệt đũi chợ Chùa. Nghĩa thứ 2 này mới là nghĩa chính còn say vì rượu chỉ là cái cớ dẫn dắt câu chuyên mà thôi.
Nghệ thuật dùng từ đồng âm khác nghĩa: “Phú Lộc ngan ngát hương thơm/ Ai đi đến đó chiều hôm quên về”. Phú Lộc nằm ven sông Vu Gia thuộc huyên Đại Lộc có nghề làm hương (nhang) nổi tiếng. Lợi dụng tính chất đồng âm của hương thơm (danh từ dùng để thắp trước bàn thờ gia tiên) và hương thơm (tính từ chỉ một mùi thơm) tác giả tạo ra 2 nghĩa trong một câu ca dao nghĩa nào cũng hay cũng đẹp.
Nghệ thuật dùng số thứ tự: “Nhất Phước Kiều đám ma/ Nhì Thanh Hà nhà cháy”. “Nhất” và “nhì” ở đây là một cách nói để tạo ấn tượng không nhằm “xếp hạng” thứ tự trước sau của sự vật hiện tượng (tương tự như “Nhất Củ Chi / Nhì Gò Nổi hoặc “Nhất nước nhì phân tam cần tứ giống”). Nhờ dùng số thứ tự câu ca dao làm nổi bật hai địa danh Phước Kiều và Thanh Hà tuy nhiên câu ca dao cũng chưa đưa ra thông tin một cách rõ ràng để người đọc có thể hiểu ngay ý nghĩa. Ở đây tác giả tiếp tục “chơi chữ” bằng cách dùng hình ảnh tương đương qua âm thanh thị giác mang tính chất hài hước đòi hỏi người đọc tự khám phá các tầng nghĩa phía sau hình ảnh đó đem lại. Phước Kiều có làng nghề nổi tiếng cả nước về đúc chiêng (chuông thanh la) bằng chất liệu đồng. Khi đúc xong chiêng nghệ nhân thực hiện công đoạn “dạy tiếng” cho chiêng nghĩa là phải đánh chuông liên tục để chỉnh sửa cho âm thanh của chuông phải đạt đến độ trong thanh và vang. Tiếng thử chiêng ấy rất giống tiếng chiêng của… đám ma. Từ sự liên tưởng như thế dân gian tạo ra câu “Nhất Phước Kiều đám ma”. Tương tự như trên Thanh Hà là làng chuyên sản xuất gốm gạch ngói. Hàng ngày các lò nung thải khói bay lên trời nghi ngút giống như… nhà cháy. “Nhất Phước Kiều đám ma/ Nhì Thanh Hà nhà cháy” còn sử dụng nghệ thuật ẩn dụ tạo cho người đọc thích thú bởi cách nói bằng hình ảnh có dòng chảy ngầm bên trong các hình ảnh ấy. Dùng hình ảnh “đám ma” và “nhà cháy” là những hình ảnh buồn và mất mát tác giả dân gian không trực tiếp phê phán làng đúc đồng Phước Kiều làng gốm Thanh Hà mà chỉ ngầm phê phán tiếng chiêng ấy ảnh hưởng đến môi trường thanh tịnh của làng quê và những đám khói bốc lên ngày đêm tại Thanh Hà là cho môi trường sống chung quanh bất an và nóng nực như nhà cháy.
Đi vào thế giới ca dao viết về địa danh làng nghề Quảng Nam như cầm trên tay một cẩm nang du lịch dẫn dắt ta đi đến những thôn cùng ngõ hẽm của làng quê xưa để chứng kiến các nghệ nhân lao động với bao sắc màu vừa lạ vừa quen:

Ai về Chợ Vạn thì về
Chợ Vạn có nghề nấu rượu nuôi heo

Ai về Bàu Ấu thì về
Bầu Ấu có nghề đan giỏ cào nghêu

Ai về Trà Quế mà coi
Trà Quế có nghề giâm giá đậu xanh
Các câu ca dao trên tác giả dân gian xưa giới thiệu rất rõ tên những địa phương và những nghề tinh xảo của địa phương đó với lòng tự hào và tràn ngập niềm vui. Xét về mặt ngữ pháp các câu trên đều sử dụng một mẫu câu thường dùng trong ca dao: “Ai về …+ X thì về – X + có nghề…”. Một mẫu câu khác ca dao thường sử dụng là: “ X + có” (x là tên địa danh hoặc tương đương):
Bảo An có thợ nấu đường
Vừa vôi thén khéo chẳng nhường nhịn ai
 Quê em có núi Ngũ Hành
Có nghề khắc đá lừng danh khắp vùng.
Mẫu câu sử dụng trong ca dao thường đơn giản dễ nhớ dễ thuộc dễ ứng tác và có khả năng diễn đạt ngắn gọn địa danh và ngành nghề của từng địa phương. Ca dao truyền miệng và xuất phát từ những câu hát dân ca những câu hát này người bình dân phải ứng đối ngay trong lúc hò khoan đối đáp do đó hiện tượng dùng những mẫu câu có sẵn bổ sung nội dung mới là phổ biến và phù hợp.
Đặc trưng cơ bản của văn hóa Quảng Nam qua địa danh trong ca dao vừa mang tính phổ biến vừa có nét đặc trưng của địa phương miền Nam Trung Bộ.
 Địa danh Hán Việt chiếm khoảng 85% địa danh thuần Việt có xuất phát từ nguồn văn hóa khác chỉ chiếm khoảng 15%. Xét về lịch sử từ thế kỷ XIV XV đất Quảng mới hình thành phát triển lúc bấy giờ nền văn hóa Hán ảnh hưởng  chủ yếu trong tầng lớp nho sĩ quan lại do đó khi đặt danh xưng các đơn vị hành chính cho vùng đất mới như Quảng Nam thường dùng từ Hán. Xét về mặt biểu nghĩa chữ Hán có ưu thế về tính hàm súc trang trọng thể hiện ước mơ nguyện vọng của một vùng đất trong các danh xưng đó. Thơ ca dân gian dùng các địa danh có gốc Hán dễ diễn đạt hơn những từ thuần Việt do đó tỷ lệ địa danh Hán Việt có tỷ lệ cao trong ca dao Quảng Nam.
Địa danh có nguồn gốc Chàm được Việt hóa: Quảng Nam là vùng đất đa dân tộc tuy nhiên ca dao hiện nay sưu tầm được chủ yếu là của người Kinh. Địa danh có nguồn gốc từ văn hóa của dân tộc thiểu số ở vùng núi chúng tôi chưa có điều kiện nghiên cứu. Riêng địa danh xuất phát nguồn gốc Chàm có một số địa danh như Trà Kiệu Trà My La Qua La Tháp… các địa danh này  không có biểu nghĩa rõ ràng.
Địa danh có chữ số và phương hướng kèm theo: Trong tục ngữ ca dao Quảng Nam số địa danh có chữ số và phương hướng (đông tây nam bắc) kèm theo chiếm tỷ lệ khoảng 2%. Các địa danh Quảng Nam Triêm Nam Triêm Tây Đông Khương Giáp Năm Nhị Dinh Nam Ô… tần số xuất hiện nhiều trong ca dao. Riêng những địa danh mang số thuần Việt (một hai…) hoặc chỉ phương hướng trong địa danh gồm 3 âm tiết ít thấy xuất hiện.
Lớp từ chỉ địa danh trong ca dao Quảng Nam khá phong phú đa dạng. Thông qua các địa danh ca dao thể hiện tinh thần yêu nước yêu quê hương giàu đẹp; cần cù lao động sản xuất phát triển nhiều ngành nghề truyền thống như Mộc Kim Bồng đúc đồng Thanh Chiêm dâu tằm Duy Xuyên chiếu Bàn Thạch; Văn hoá ẩm thực: Mì Quảng Cao Lầu bánh gừng bánh tổ bánh tráng đập; Nhiều sản vật đặc trưng khác nhe khoai Trà Đõa lụa Phú Bông…
 Ca dao là tấm gương phản ánh đời sống của người dân. Tính cách tâm hồn phong tục lối sống của con người gắn liền với phương thức sử dụng ngôn ngữ. Từ ngữ sử dụng trong ca dao nhiều khi mộc mạc bình dị nhưng thể hiện tình cảm nồng nàn say đắm và biểu lộ một cách chân chất ý nhị trữ tình những cung bậc tình cảm qua từ ngữ của chính địa phương mình. 

NNK



 

Duy Quý

Có Đà Nẵng ko

Có ca dao of ĐÀ NẴNG ko

Diep

Nên có nhiều ca dao về quê hương tình yêu tình bạn về Quảng nam hơn